Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

Đại tượng Phật A Di Đà cao nhất Việt Nam trên đỉnh FANSIPAN

Kim Sơn Bảo Thắng Tự tọa lạc gần đỉnh Fansipan, được xây dựng từ cuối năm 2015 và chính thứchoàn thiện, khánh thành sau hai năm triển khai thi công (tháng 1/2018).
Từ Kim Sơn Bảo Thắng Tự đi dọc theo con đườngLa Hán xuống là Đại tượng Phật A Di Đà cao 21,5m, được đúc bằng đồng theo kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay. Đây là bức tượng Phật bằng đồng cao nhất Việt Nam tới thời điểm này.
Chia sẻ về quá trình thi công công trình kiến trúc tâm linh này, giáo sư Hoàng Đạo Kính bày tỏ trên báo điện tử ngoisao.net khi cho rằng đây thực sự là một kỳ công.
Cũng theo lời Giáo sư, đã có hàng chục ngàn tấn đá nguyên khối được đưa đến để xây dựng các chùa, bảo tháp, tháp chuông và hàng ngàn bậc đá uốn theo từng thế đất, hàng ngàn m3 gỗ, hàng vạn viên ngói phục chế.
Tất cả vật liệu đã được vận chuyển thủ công bằng cáp công vụ, bằng tay và sức người lên đỉnh, trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt khi mà chỉ đứng ở trên đỉnh núi đó đã là khó rồi.
Đặc biệt, Đại tượng Phật bằng đồng được đúc theo kỹ thuật thi công đặc biệt nhất, lần đầu tiên được ứng dụng tại Việt Nam. Pho tượng này không được đúc thông thường mà được tạo thành bởi hàng ngàn vạn tấm đồng dày 5mm gia công tại chỗ, ốp trên một kết cấu khung sắt có thể tích gần 1000m3, báo Tiền phong đưa tin.
Ngay trong ngày khai quang, khoảng 500 phật tử ở 3 miền đất nước đã đến Kim Sơn Bảo Thắng Tự tham gia đại lễ cầu nguyện quốc thái dân an trên đỉnh Fansipan, Sapa, Lào Cai.
Hiện nay, quần thể du lịch tâm linh này đã nhận được sự quan tâm của du khách khắp nơi trên cả nước. Bất chấp tiết trời giá lạnh ở Lào Cai, nhiều người đã đổ xô đến đây để được tận mắt chiêm ngưỡngcông trình kỳ công tọa lạc trên đỉnh Fansipan hùng vĩ.


Nguồn: Thư viện Hoa sen - https://thuvienhoasen.org
Share:

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2018

HỌC VIỆN HOA KỲ NGHIÊN CỨU VỀ BÍ MẬT TÂM THỨC

16/08/2017 11:45 Sáng
Các nhà nghiên cứu từ Học viện Hoa Kỳ đang nghiên cứu về những nhà sư ở Bylakuppe để mở các bí mật của tâm thức.
Khoảng 1 giờ chiều tại Đại học Tu viện Sera Jey ở Bylakuppe, huyện Mysuru, bang Karnataka, Ấn Độ. Trên khắp khuôn viên rộng lớn, các nhà sư trong bộ y phục màu nâu sẫm đang thiền định, một số đang nghiên cứu, trong khi một số người khác đang tham gia vào một cuộc thảo luận.
Tất cả các hoạt động dường như vẫn diễn ra bình thường. Nhưng bên trong một phòng thí nghiệm nhỏ tại Trung tâm Khoa học Sera Jey, có một số hoạt động bất thường. Một nhóm các nhà nghiên cứu khoa học về các Nhà sư, trụ sở tại Hoa Kỳ, và Đại học Kent State (tiểu bang Ohio) đang theo dõi chặt chẽ các nhà sư khi họ có một cuộc thảo luận nghiêm túc về chánh niệm.
“Chúng tôi ở đây để lập bản đồ hoạt động não của các nhà sư Phật giáo khi họ tranh luận. Chúng tôi muốn hiểu những gì xảy ra trong não của họ và khi các nơ-ron đồng bộ hóa”, Bryce Johnson, chủ tịch và giám đốc điều hành của Khoa học về các Nhà sư nói.
Đối với các nhà sư Tây Tạng, tranh luận không chỉ là một bài tập về mặt học thuật. Đó là một cách để hiểu được bản chất của thực tế và đạt được kiến thức, thông qua việc phân tích cẩn thận các hiện tượng thế giới thực. Ông Ngawang Norbu, thành viên chính của Trung tâm Khoa học Sera Jay, nói: “Một mục tiêu quan trọng là áp dụng kiến thức vào các tình huống thực tế. Đức Dalai Lama thường nhấn mạnh rằng việc học không hữu ích bằng ứng dụng kiến thức thực tiễn”.
Được trang bị với những chiếc mũ trắng có các miếng điện cực để chụp lại các hoạt động của não, người thách thức (đứng) và người biện hộ (ngồi) tranh luận về những chủ đề từ tánh không đến vũ trụ học trong khi máy tính ghi lại những thông tin điện não đồ (EEG). EEG giúp nghiên cứu hoạt động của não bằng cách ghi lại hoạt động lặp đi lặp lại của một nơ-ron, được gọi là dao động thần kinh.
“Các nhà sư nhìn nhận điều này như là cách để tăng cường Phật học, đây là một phần của truyền thống Nalanda cổ đại… Dữ liệu của chúng tôi cho thấy khi cuộc tranh luận tiến triển, mức độ tập trung của họ tăng lên”, Johnson nói.
Có 9 nhà sư được chọn cho hoạt động lập bản đồ trong suốt thời gian nghiên cứu 15 ngày, kết thúc vào ngày 12-8-2017. Thông thường, người thách thức đặt câu hỏi và người biện hộ trả lời họ. Một khi vị ấy hoàn thành câu hỏi của mình, người thách thức vỗ tay một cách nhanh chóng – biểu hiện của từ bi (bên tay phải) và trí tuệ (trái tay) – và dẫm chân trái của mình. Người thách thức sau đó giơ cánh tay trái của vị ấy ra và sử dụng tay phải để nâng vòng tràng hạt quanh bên trái.
“EEG chụp được những khoảnh khắc trong bộ não của các nhà sư khi họ tham gia vào cuộc tranh luận. Khi nào các nơ-ron đồng bộ? Chất lượng sự chú ý trong quá trình tranh luận là gì? Nếu có sự đồng bộ giữa 2 nhà sư, khi nào thì điều đó xảy ra? Đây là những gì chúng ta đang tìm hiểu”, David M Fresco, giáo sư khoa học tâm lý học tại Đại học Kent State (tiểu bang Ohio) nói.
Bài tập cũng nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt trong hoạt động não của các nhà sư cao tuổi và trẻ tuổi hơn. Các nhà nghiên cứu sẽ sớm so sánh dữ liệu đọc EEG để hiểu được hiện tượng tranh luận.
Năm 2004, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Wisconsin đã nghiên cứu các nhà sư Tây Tạng trong trạng thái thiền định và tìm thấy sóng gamma – các mức sóng hoạt động điện có tần số cao nhất trong các nơ-ron. Các mức độ này được thấy ở một số nhà sư ngay cả khi họ không thiền định, giả thuyết rằng những năm thiền định đã gây ra tính khả biến thần kinh. Các nghiên cứu tiếp theo đã chỉ ra rằng dòng máu chảy vào não cao hơn trong số những người thiền định lâu dài trong khi họ cũng có chất xám lớn hơn ở một số khu vực liên quan đến việc điều chỉnh tâm trí.
“Mục tiêu lâu dài là làm cho Khoa học Phật giáo, khoa học về tâm trí của truyền thống Nalanda cổ đại, có thể tiếp cận được lớn hơn với nhân loại bằng cách sử dụng khoa học hiện đại như là một phương tiện, chủ yếu để nâng cao giá trị và lòng trắc ẩn con người theo cách thế tục”, Ngawang Norbu, người đứng đầu Trung tâm Khoa học Sera Jey, nói.
Theo giacngo.vn
Copy to http://www.thegioiphatgiao.vn
Share:

THÁP ĐẠI NHẠN: NƠI LƯU TRỮ KINH SÁCH CỦA NGÀI HUYỀN TRANG

06/11/2017 7:18 Sáng
Tọa lạc bên trong khuôn viên chùa Đại Từ Ân (大慈恩寺), thuộc ngoại thành thành phố Tây An (西安), tỉnh Thiểm Tây (陕西), tháp Đại Nhạn (大雁塔) là một trong những kiến trúc cổ nổi tiếng nhất Trung Quốc và được xem là một biểu tượng của tỉnh Thiểm Tây.
Tọa lạc bên trong khuôn viên chùa Đại Từ Ân (大慈恩寺), thuộc ngoại thành thành phố Tây An (西安), tỉnh Thiểm Tây (陕西), tháp Đại Nhạn (大雁塔) là một trong những kiến trúc cổ nổi tiếng nhất Trung Quốc và được xem là một biểu tượng của tỉnh Thiểm Tây. Xây dựng vào năm 652 dưới triều hoàng đế Cao Tông (高宗628-683) nhà Đường (618-907), ngôi tháp này ban đầu đóng chức năng làm nơi lưu trữ những kinh sách Phật giáo mà ngài Huyền Trang đã mang về từ Ấn Độ. Ngài Huyền Trang khởi hành từ Trường An (nay là Thiểm Tây), hành trình dọc theo Con đường tơ lụa, đi qua nhiều quốc gia và cuối cùng đến Ấn Độ vào năm 630. Sau 17 năm lưu trú ở Ấn Độ, ngài trở về lại Trung Quốc, mang theo nhiều tượng Phật, xá-lợi và 657 bản kinh Phật khác nhau. Sau khi được hoàng đế Cao Tông đồng ý, ngài Huyền Trang, bấy giờ là vị trụ trì đầu tiên của chùa Đại Từ Ân, đã chỉ đạo xây dựng một ngôi tháp bên trong khuôn viên chùa. Sau đó với sự hỗ trợ của triều đình, ngài đã thỉnh mời 50 vị dịch giả đến đây để chuyển dịch kinh sách Phật từ tiếng Sanskrit sang Hán ngữ, tổng cộng có 1.335 tập được hoàn thành, đánh dấu một kỷ nguyên mới trong lịch sử dịch thuật Phật giáo.
Về lý do tại sao ngôi tháp này được gọi là Đại Nhạn có một giai thoại như sau. Chuyện kể rằng vào một ngày nọ, chư Tăng trong một ngôi chùa vốn không có truyền thống ăn chay, đã không mua được thịt cho bữa ăn ngày hôm đó. Khi nhìn thấy một đàn nhạn bay trên trời, một vị Tăng tự nhủ: “Hôm nay chúng ta không có thịt. Tôi mong Bồ-tát từ bi sẽ ban cho chúng ta một ít”. Ngay lúc ấy, con nhạn đầu đàn bị gãy cánh và rơi xuống đất. Các sư tăng vô cùng hoảng sợ và nghĩ rằng Bồ-tát thể hiện lòng mong muốn của ngài là họ cần phải từ bi hơn đối với chúng sanh. Do đó họ xây dựng một ngôi tháp ở nơi con nhạn rơi xuống và chấm dứt việc ăn thịt. Và theo đó ngôi tháp này được đặt tên là tháp Nhạn. Tuy nhiên, sự thực ngôi tháp này được đặt tên như vậy bởi vì kiến trúc của nó được mô phỏng từ một ngôi tháp có cùng tên ở Ấn Độ. Để phân biệt với ngôi tháp nhỏ hơn có cùng kiến trúc được xây dựng về sau tại chùa Tiến Phúc (荐福寺) ở Trường An, người ta gọi nó là tháp Đại Nhạn.
Tôn tượng ngài Huyền Trang
Ngôi tháp này ban đầu có chiều cao 60 mét với năm tầng, nhưng về sau nó được bổ sung thêm hai tầng và có chiều cao tổng thể là 64 mét. Hình ảnh ngôi tháp bảy tầng về sau đi vào tục ngữ Trung Quốc qua câu nói: “Cứu nhân nhất mệnh thắng tạo thất cấp phù đồ” (救人一命勝造七級浮屠: Cứu một mạng người hơn hẳn xây ngôi tháp bảy tầng). Nhìn ở bên ngoài, ngôi tháp có kiến trúc hình kim tự tháp, đơn giản nhưng uy nghi, và nó là một kiệt tác của kiến trúc Phật giáo. Ngôi tháp được xây bằng gạch nhưng không dùng đến xi-măng hay vôi vữa. Loại kiến trúc rầm chia trong kiến trúc truyền thống Trung Quốc cũng được sử dụng trong xây dựng.
Bên trong ngôi tháp, những bậc thang theo hình xoắn ốc dẫn lên những tầng trên, và ở đó ta có thể ngắm toàn cảnh thành phổ Tây An từ những cửa sổ ở bốn mặt tháp. Trên các bức tường được khắc chạm những bực tượng Phật mà được cho là do họa sĩ nổi tiếng đời Đường là Diêm Lập Bổn (閻立本600-673) thực hiện. Những bức tượng đá thể hiện sự thiện xảo trong điêu khắc, và hiện được xem là những nguồn tham khảo quan trọng cho việc nghiên cứu về hội họa và điêu khắc đời Đường. Vào đời nhà Đường, mọi thí sinh trúng tuyển – những người đỗ những kỳ thì do triều đình tổ chức, phải trèo lên tháp Đại Nhạn viết một bài thơ và chữ viết lên đó. Nghi thức này tượng trưng cho việc thăng tiến sự nghiệp trong tương lai. Hình thức viết thơ và đề chữ của những thí sinh trúng tuyển của các kỳ thi triều đình tiếp tục cho đến triều Minh. Những bài thơ và các bản chữ viết này tồn tại cho đến ngày nay.
Tại hai mặt cửa Nam của tháp, ở đó dựng hai tấm bia do nhà thư pháp nổi tiếng đời Đường là Trữ Toại Lương (褚遂良) viết, nhưng nội dung của bia do hai hoàng đế Đường Thái Tông và Đường Cao Tông soạn, để tán thán những kỳ tích mà ngài Huyền Trang đã thực hiện.
Quần thể ngôi chùa mà ở đó tháp Đại Nhạn tọa lạc là một khu vườn tuyệt đẹp với những kiến trúc ấn tượng. Mặc dù bị hủy hoại và trùng tu nhiều lần, và hầu hết những khu nhà trong quần thể chùa Đại Từ Ân được xây vào thời Thanh, nhưng những công trình này đều mang kiến trúc đời Đường – thời kỳ ngôi chùa được thành lập. Quần thể ngôi chùa được xây dựng dọc theo một trục chính, với những công trình đối xứng hai bên. Bên trong ngôi chính điện thờ ba tôn tượng Phật, tượng trưng cho ba hóa thân của Đức Phật. Bức tượng ở giữa là Pháp thân, bức phía Tây là Báo thân và bức phía Đông là Ứng thân. Ngoài ra trong quần thể ngôi chùa còn lưu giữ nhiều cổ vật xưa.
Phía Bắc của tháp Đại Nhạn có một đài nhạc nước rất lớn. Cấu trúc của đài nhạc nước này kết hợp giữa những yếu tố truyền thống và hiện đại. Viếng thăm nơi này cần đến vào buổi tối, khi toàn thể khu vực này được thắp đèn. Phía Nam của tháp Đại Nhạn là quảng trường Huyền Trang, nhân vật gắn liền với ngôi chùa này. Gần quảng trường Huyền Trang là Đại Đường bất dạ thành (大唐不夜城) – một khu tổ hợp với nhiều chức năng khác nhau.
Tháp Đại Nhạn là danh lam nổi tiếng nhất của thành phố Tây An, và là một địa chỉ không nên bỏ qua khi ta có dịp viếng thăm thành phố này. Viếng thăm nơi này, ngoài việc thưởng lãm một ngôi chùa cổ có kiến trúc và cảnh quan đẹp, đây cũng là dịp cho chúng ta tìm hiểu và ôn lại hành trạng của một nhân vật nổi tiếng của Phật giáo, đó là ngài Huyền Trang. 
Nguyễn Đăng
Theo Nguyệt San Giác Ngộ
Copy to http://www.thegioiphatgiao.vn
Share:

SẮP CHIẾU PHIM VỀ THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH TẠI VN

02/02/2018 2:21 Chiều
Mới đây, đại diện BTC công chiếu bộ phim tài liệu về Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Việt Nam, đã chính thức công bố ngày ra mắt phim.
Theo đó, hồi giữa tháng trước, bộ phim Walk with me với tựa tiếng Việt là Bước chân an lạc, nói về một cộng đồng các nhà sư và chư Ni Phật giáo đã cống hiến đời mình để làm chủ được nghệ thuật chánh niệm, với vị thầy nổi tiếng thế giới Thích Nhất Hạnh, đã được cấp giấy phép trình chiếu tại Việt Nam.
Walk with me – poster phim khi được công chiếu tại Thái Lan – Ảnh: Quảng Điền
Thông tin với báo giới, đại diện BTC cho biết, bộ phim sẽ chính thức có 3 buổi ra mắt công chúng tại Sài Gòn, Hà Nội và Đà Nẵng, cụ thể như sau: tại TP.HCM: Thứ tư (28-2), lúc 18 giờ, tại rạp BHD Star Cineplex – Bitexco; tại Đà Nẵng: Thứ bảy (3-3), lúc 18 giờ, tại rạp Lotte Đà Nẵng; Hà Nội: Thứ bảy (10-3), lúc 18 giờ, tại Rạp BHD Star Cineplex – Phạm Hùng.
Được biết, sau ba ngày ra mắt giới thiệu phim kể trên, lịch trình cụ thể công chiếu rộng rãi tại các rạp trên toàn quốc, sẽ được BTC sắp xếp và công bố sau. Hiện tại, quý Phật tử cũng như khán giả quan tâm có thể đặt vé trước, bằng hình thức trực tuyến qua trang chủ của cụm rạp BHD Star Cineplex, giá vé niêm yết được phía cụm rạp BHD đưa ra là 60.000-70.000đồng/vé và cuối tuần 90.000-100.000 đồng/vé.
Walk With Me với độ dài 88 phút, là bộ phim tài liệu nói về đời sống và sự cống hiến của cộng đồng Tăng sĩ Phật giáo Làng Mai dưới sự hướng dẫn, chỉ dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, nổi bật sự chánh niệm trong thiền định. Bộ phim do hai đạo diễn Max Pugh và Marc J.Francis kỳ công thực hiện trong 5 năm, và đã được trình chiếu ở nhiều nơi (dự kiến được công chiếu tại Việt Nam trên hệ thống rạp BHD từ cuối năm ngoái).
Theo tác giả người Mỹ, dịch giả, biên tập viên, giáo viên và nhà thơ sống ở San Francisco, một trong những cố vấn quốc tế của kênh Phật giáo, trang web tin tức của Phật giáo Malaysia và hiện đang làm việc cho tờ Tricycle: The Buddhist Review – ông Gary Gregory Gach – Walk With Me không chỉ là bộ phim diễn tả chánh niệm, mà đó là sự trải nghiệm trực tiếp, đi thẳng vào bên trong những gì gọi là chánh niệm.
Nhân vật danh dự của Walk With Me là Thiền sư Thích Nhất Hạnh, đã có những lời nhắn nhủ đến các rạp chiếu phim về việc hoán đổi bối cảnh rạp thành các thiền đường – ông Gary Gregory Gach nói và lý giải – sở dĩ tôi gọi “nhân vật danh dự” bởi vì sự hiện diện của Thiền sư đại diện cho cả một cộng đồng được yêu mến, do chính Thiền sư thiết lập nên và duy trì đến nay, không chỉ riêng ở Hoa Kỳ mà trên toàn thế giới, với cái tên đặc biệt: Làng Mai.
Giao Hảo
Theo GNO
Copy to http://www.thegioiphatgiao.vn
Share:

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Vài Nét Về Hòa Thượng Thích Thanh Từ


Hòa thượng húy là Trần Hữu Phước, pháp danh Thích Thanh Từ, sau đổi lại húy là Trần Thanh Từ. Sinh ngày 24 tháng 07 năm Giáp Tý (1924), tại ấp Tích Khánh, làng Tích Thiện, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long).

Thân phụ của Hòa thượng húy Trần Văn Mão, từ nhỏ theo nghiệp Nho, giữ nếp sống thanh bần. Cụ ông theo  đạo  Cao  đài, lập gia đình hơi muộn. Thân mẫu của Hòa thượng húy Nguyễn Thị Đủ quê làng Thiện Mỹ, dòng Thanh Bạch, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Cụ bà chân chất hiền lành, suốt đời tận tụy hy sinh vì chồng vì con.
Hòa thượng sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn nghèo túng, nhưng Người đã nổi bật những nét riêng từ thuở ấu thơ: trầm mặc, ít nói, thích đọc sách, có chí xuất trần và đặc biệt rất hiếu thảo với Cha Mẹ. 
Khoảng năm 9 tuổi, nhân theo Cụ ông lên Mốp Văn, Long Xuyên thọ tang người Bác thứ ba, Hòa thượng được đến chùa Sân Tiên trên núi Ba Thê cúng cầu siêu cho Bác. Duyên xưa gặp lại, nghe tiếng chuông chùa ngân dài giữa khoảng thinh không cô tịch, Hòa thượng rúng động như có một nỗi niềm giao cảm tự bao giờ. Bất thần Người xuất khẩu thành thơ:
Non đảnh là nơi thú lắm ai,
Đó cảnh nhàn du của khách tài.
Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc
Chuông hồi văng vẳng quá bi ai!
Có thể nói rằng chí xuất trần của Hòa thượng nổi dậy kể từ đây. 
Sớm chìm nổi theo dòng đời và nhất là sống trong thời loạn lạc, Hòa thượng càng thấm thía, càng đau xót nỗi thống khổ của con người. Chí xuất trần của Hòa thượng vì thế càng trở nên mãnh liệt hơn và Người luôn ôm ấp một tâm niệm “ Nếu tôi không thể làm một viên linh đơn cứu tất cả bệnh của chúng sanh, ít ra cũng là một viên thuốc bổ giúp cho người bớt khổ.” Từ dạo đó trái nhân duyên đã chín muồi, cuộc đời của Hòa thượng rẽ sang một con đường sáng.
Ngày 15 tháng 07 năm Kỷ Sửu 1949, sau ba tháng công quả tại chùa Phật Quang, Hòa thượng được Tổ Thiện Hoa chánh thức cho xuất gia với pháp danh là Thanh Từ. Thế là ước  nguyện  của  Người  đã được thành tựu. Từ đây Hòa thượng siêng năng theo Tổ công phu bái sám, vừa học giáo lý, vừa dạy trẻ em. Ngoài ra còn phụ trông nom coi sóc mấy chục chú Tiểu trong chùa. Công việc tuy nhiều, song Hòa thượng luôn để tâm học Giáo điển.
Năm 1949 -1950, Hòa thượng theo học lớp Sơ đẳng năm thứ ba tại Phật Học Đường Phật Quang.  Đến năm 1951, Hòa thượng bắt đầu học lên Trung đẳng.
Một khuya nọ, nhân đọc Kinh Lăng Nghiêm đến chỗ Phật chỉ Tôn giả A Nan nhận ra bản tâm chân thật của chính mình qua tánh thấy, tánh nghe, bất giác Hòa thượng xúc động rơi lệ. Phải chăng đây là dấu hiệu cho biết chủng duyên Phật Pháp nhiều đời của Người đã bắt đầu nẩy mầm?
Cũng trong năm nầy chùa Phật Quang bị binh biến, Tổ Thiện Hoa phải dời Tăng chúng lên chùa Phước Hậu, Hòa thượng cũng được theo và thọ giới Sa Di tại đây do Tổ Khánh Anh làm Hòa thượng Đàn đầu.
Năm 1953 Hòa thượng theo Bổn sư là Tổ Thiện Hoa lên Sài gòn, tiếp tục học lớp Trung đẳngtại Phật Học Đường Nam Việt chùa Ấn Quang. Tại đây, Hòa thượng được thọ giới Cụ túc do Tổ Huệ Quang làm Hòa thượng Đàn đầu.
Từ năm 1954 -1959, Hòa thượng học Cao đẳng Phật học tại Phật Học Đường Nam Việt. Những vị đồng khóa cùng ra trường với Hòa thượng như quí Ngài Huyền Vi, Thiền Định, Từ Thông, ...   
Như vậy là ngót mười năm Hòa thượng đã trải qua hai năm Sơ đẳng, ba năm Trung đẳng, bốn năm Cao đẳng. Tốt nghiệp các lớp Phật học xong là đoạn đường Tăng sinh đã hoàn tất. Hòa thượng bước sang thời kỳ hóa đạo. Hòa thượng là một vị Giảng sư trong Giảng sư đoàn của ban Hoằng Pháp, có uy tín lớn thời bấy giờ và được sự mến mộ của Phật tử xa gần.
Năm 1960 -1964, Hòa thượng đã giữ những chức vụ trong Phật giáo:
  • Phó Vụ Trưởng Phật Học Vụ.
  • Vụ Trưởng Phật Học Vụ.
  • Giáo sư kiêm Quản viện Phật Học Viện Huệ Nghiêm.
  • Giảng sư Viện Đại Học Vạn Hạnh và các Phật Học Đường Dược Sư, Từ Nghiêm,...
Sau lễ mãn khóa Cao Trung Chuyên Khoa tại Huệ Nghiêm và Dược Sư, Hòa thượng thầm nghĩ với ngần ấy đóng góp cũng phần nào tạm đủ nói lên tấm lòng tri ân và báo ân của mình đối với Thầy Tổ rồi. Hòa thượng liền xin phép với Tổ Thiện Hoa được lui về núi ẩn tu. Chí đã quyết, Hòa thượng dằn lòng dứt áo ra đi, âm thầm một mình một bóng lên chốn non thâm.
Hòa thượng đã thật sự giã từ Phật Học Viện, giã từ phấn bảng với năm tháng miệt mài vì tứ chúng. Nhưng hai tiếng "Tăng Ni" vẫn xoáy sâu vào lòng Người, để sau này chút duyên "Thầy Trò" ấy lại gặp nhau và càng thêm son sắt trên đỉnh Tương Kỳ.
Tháng 04 năm 1966, Hòa thượng dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Ngôi thất lá vuông vức bốn thước đơn sơ với bộ Đại Tạng Kinh, nhưng đã ấp ủ một thiền Tăng nghèo quyết nhận lại cho kỳ được hạt châu vô giá của chính mình.
Đến rằm tháng tư năm Mậu Thân, Hòa thượng tuyên bố nhập thất vô hạn định với lời kiên quyết: " Nếu đạo không sáng, thệ không ra thất.” Thế là cửa sài đôi cánh khép. Toàn thể môn nhân qui ngưỡng lên non một lòng mong đợi.
Tháng 07 năm 1968, Hòa thượng liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát Nhã. Từ con mắt Bát Nhã trông qua tạng Kinh, lời Phật, ý Tổ hoác toang thông thống. Giáo lý Đại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng khám phá từ công phu thiền định của Người.
Ngày 08 tháng 12 năm ấy, Hòa thượng tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử. Nước cam lồ từ đây rưới khắp, suối từ bi từ đây tuônchảy. Pháp Lạc thất thật xứng đáng là linh hồn của dòng Thiền Chân Không. Nơi đây, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu của Hòa thượng. Hoài bão tu Thiền đã thai nghén bao năm trong thầm lặng đơn độc của Người, đến đây mới thật sự có điểm khởi phát và lớn dậy, để sau nầy Phật giáo Việt Nam vinh dự có một ngôi sao sáng mở ra trang Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng vào cuối thế kỷ 20.
Hòa thượng đã từng nói: “Tôi là kẻ nợ của Tăng Ni và Phật tử. Ai biết đòi thì tôi trả trước, ai chưa biết đòi thì trả sau.” Suốt đời Ngài đều dốc hết sức mình lo cho Phật pháp, đặc biệt là làm sống lại Thiền tông đời Trần, tạo điều kiện cho Tăng Ni tu hành tiến bộ. Tăng Ni tu hành có tiến bộ thì Phật pháp mới còn và lớn mạnh được. Sự tu hành tiến bộ của Tăng Ni là niềm vui của Ngài. Ngài nói: “Hoài bão của Thầy đều gởi gắm hết vào sự nỗ lực tu tập của tụi con. Tăng Ni tu có niềm vui, sáng được việc lớn, đó là biết thương tưởng đến Thầy. Bằng ngược lại thì thật là Thầy chưa đủ phước để được vui trước khi nhắm mắt. Bởi vì nguyện vọng khôi phục Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần của Thầy chưa thành tựu.”
Hòa Thượng hiện là Viện Chủ Thiền Viện Trúc Lâm Phượng Hoàng (Đà Lạt - Việt Nam), Hội Trưởng Hội Thiền Học Việt Nam, Chủ Tịch kiêm Hội Trưởng Hội Thiền Học Quang Chiếu và là Trụ Trì Thiền Viện Quang Chiếu.
Các thiền viện sau đây chính thức được Hòa thượng thành lập, làm nơi giáo hóa và hướng dẫn tu hành:
  • Thiền viện Chân Không, núi Tương Kỳ - Vũng Tàu, thành lập vào tháng 04 năm 1971; dời về Thường Chiếu năm 1986, được phép tái thiết năm 1995.
  • Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 08 năm 1974.
  • Thiền viện Viên Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 04 năm 1975.
  • Thiền viện Huệ Chiếu, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành lập tháng 04 năm 1979.
  • Thiền viện Linh Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 02 năm 1980.
  • Thiền viện Phổ Chiếu, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành lập tháng 06 năm 1980.
  • Thiền viện Tịch Chiếu, Long Hải, thành lập tháng 07 năm 1987.
  • Thiền viện Liễu Đức, Long Thành - Đồng Nai.
  • Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt - Lâm Đồng, thành lập tháng 04 năm 1993.
  • Chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, 2002.
  • Thiền viện Tuệ Quang, Linh Trung, Thủ Đức, Sài Gòn.
  • Thiền viện Hương Hải, Long Thành - Đồng Nai.
  • Thiền viện Đạo Huệ, Long Thành - Đồng Nai.
  • Thiền viện Tuệ Thông, Long Thành - Đồng Nai.
  • Thiền viện Quang Chiếu, Forthworth, Texas, Mỹ, thành lập năm 2000.
  • Thiền viện Đại Đăng, Bonsall, California, Mỹ, thành lập năm 2001.
  • Thiền viện Đạo Viên, Québec, Canada, thành lập năm 2002.
  • Thiền viện Bồ Đề, Boston, Mỹ, thành lập năm 2002.
  • Thiền viện Diệu Nhân, Sacramento, Mỹ, thành lập năm 2002.
  • Thiền viện Tiêu Dao, Úc.
  • Ngoài ra, còn có Thiền Thất Ngọc Chiếu, Garden Grove, CA, Mỹ. Thiền Thất Thường Lạc - Pháp. Thiền Trang Hỷ Xả - Úc
  • Hòa thượng cũng đã góp sức trùng tu hai Tổ đình Phật Quang và Phước Hậu, Trà Ôn, Vĩnh Long.
Hòa thượng giảng và dịch rất nhiều bộ Kinh, Luận và Sử từ Hán văn sang Việt văn. Ngoài ra Hòa thượng còn giảng giải rất nhiều bài pháp phổ thông cho Tăng Ni và Phật tử.
Hòa thượng đã đi du hoá và thăm viếng các nước:
  • Cam-pu-chia (1956)
  • Ấn Độ, Tích Lan và Nhật Bản (1965)
  • Trung Quốc (1993)
  • Pháp (1994 - 2002)
  • Thụy Sĩ (1994)
  • Indonesia (1996).
  • Canada (1994 - 2002)
  • Hoa Kỳ (1994 - 2000 - 2001 - 2002)
  • Úc châu (1996 - 2002).
(Nguồn: Thích Tâm Hạnh-Thiền Viện Trúc Lâm)
Share:

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

Cậu thiếu niên Nepal ngồi thiền dưới gốc cây 8 tháng không ăn không uống

09/03/2017 10:41:33 - Thời báo Today


Năm 2005, một cậu thiếu niên 15 tuổi người Nepal đã ngồi thiền 8 tháng liên tục dưới một gốc cây mà không ăn uống. Câu chuyện của cậu đã thu hút giới truyền thông khắp thế giới.

Trong khu rừng ở Ratapuri làng Bala (Nepal) có một cậu thiếu niên tên là Ram Bahadur Bomjan, vốn đi theo Phật giáo từ nhỏ. Vào năm 2005, cậu nói với gia đình rằng “đừng giết động vật, đừng uống rượu, bởi vì những việc này sẽ làm hại chính mình”. Sau đó, cậu rời khỏi nhà và vào trong rừng ngồi thiền, không ăn không uống. 



Ban đầu, gia đình cậu phản đối và tìm mọi cách để không cho Ram ngồi thiền. Nhưng sau 3 tháng thì họ bỏ cuộc. Cậu không ăn không uống, không vệ sinh cá nhân gần 8 tháng , từ sáng đến tối chỉ nhắm mắt ngồi dưới gốc cây. Điều này đã thu hút hàng ngàn người đến hành hương, họ gọi Ram là “cậu bé Phật” (Buddha boy). Người thân của cậu đã lập một hàng rào lớn quanh gốc cây để tránh người ngoài vào làm phiền quá trình thiền định. 


​ Ram Bahadur Bomjon đang ngồi thiền định dưới gốc cây.
Video tài liệu của kênh Discovery

Tin tức về “cậu bé Phật” nhanh chóng lan ra khắp thế giới. Nhóm sản xuất chương trình Discovery tỏ ra nghi ngờ đối với tin tức này nên đã đến thực địa, tiến hành ghi hình suốt 96 giờ đồng hồ ở vị trí bên ngoài cách hàng rào bảo vệ 50m để xác thực xem liệu cậu thiếu niên có thật sự như lời dân làng nói. 



Khán giả sẽ quan sát xem liệu cậu thiếu niên này có rời khỏi gốc cây hoặc lấy đồ ăn thức uống từ nơi khác hay không. Bác sĩ từ khắp nơi cũng sẽ dựa theo hình ảnh này để đưa ra ý kiến của họ về tình trạng cơ thể cũng như phỏng đoán cậu thiếu niên làm thế nào mà chịu được thử thách phi thường này. 



Chuyên gia y học của Mỹ cho biết, thận sẽ suy yếu rồi chết trong tình trạng không uống nước 4 ngày, kỷ lục Guinness có ghi nhận một người sống được lâu nhất 18 ngày trong trạng thái không có nước, còn sống được 8 tháng thì tuyệt đối không thể xảy ra. 



Trên thực tế, sau 96 giờ, bằng kĩ thuật tiên tiến, nhóm sản xuất chương trình đã nhận ra rằng cơ thể của cậu thiếu niên không hề xuất hiện những hiện tượng suy kiệt như lời dự đoán của các chuyên gia y học. Nhóm sản xuất chương trình Discovery đã khảo sát thêm những người tụ tập xung quanh gốc cây, họ đều chứng thực rằng Ram không hề giấu bất cứ đồ ăn hay nguồn nước nào trong lúc ngồi thiền. 



Từ đầu đến cuối, Ram chỉ ngồi bất động, không ăn không uống. Trong môi trường từ 5-10 độ C ở đó, thỉnh thoảng Ram còn đổ mồ hôi, có nghĩa là các chức năng sinh lý trong cơ thể hoạt động rất tốt, thậm chí còn tăng nhiệt giống như đang vận động để cơ thể không bị mất nhiệt trong môi trường nhiệt độ thấp. Nhóm sản xuất bị chấn động, người thân của Ram cho hay, trước khi bỏ đi khỏi gia đình, cậu nói rằng sẽ dự định ngồi thiền trong 6 năm. 


Video ngắn trích đoạn cận cảnh Ram ngồi thiền: 

Theo quan sát, vào ban ngày Ram không hề rời khỏi gốc cây, nhưng không ai được phép đến gần cậu. Khoảng từ 5 giờ chiều đến 5 giờ sáng, không có ai ở bên cậu cả, chỉ có máy quay ghi hình mà thôi. Có người phỏng đoán Ram ăn uống vào lúc đó, một số những người ủng hộ cho rằng việc tranh luận này là không có ý nghĩa gì cả. 

Tác giả người Mỹ – George Saunders đã quan sát cậu thiếu niên suốt đêm và rất bất ngờ trước việc cậu vẫn giữ tư thế ngồi yên tĩnh ngay ngắn dù đêm lạnh, ông cho rằng khả năng giữ đúng tư thế ngồi suốt đêm dù gió thổi hay thời tiết lạnh lẽo thật sự là siêu nhân. Ông đã ghi lại rất chi tiết cuộc hành trình của mình tại đây. 



Vào tháng 1/2005, 9 nhân viên chính phủ dẫn đầu là Lạt-ma Gandamama đã quan sát suốt 48 giờ và chứng minh rằng cậu bé hoàn toàn không ăn uống bất cứ thứ gì. Một đoạn phim cũng đã chứng minh điều này, thế nhưng họ vẫn không thể đến gần trong khoảng cách 3m. 

Cảnh quay về cậu thiếu niên ngồi thiền trong lửa


Một tuần sau lần khảo sát đầu tiên, nhóm ghi hình quay lại thì được biết vào 8 giờ tối ngày 5/01/2006, có 59 người làm chứng đã tận mắt nhìn thấy có ngọn lửa xuất hiện từ ngực của Ram, sau đó ngọn lửa tự thân đã thiêu rụi bộ quần áo mà Ram mặc gần 8 tháng. Sau đó, cậu đã gọi anh trai và yêu cầu mang đến một chiếc áo choàng màu đỏ. 



Vào buổi tối ngày 18/01/2006, khi Ram đang ngồi thiền, một lần nữa lửa tự thân bỗng nhiên lại xuất hiện và thiêu cháy chiếc áo choàng đỏ chỉ vừa mới mặc vài ngày, cậu chìm trong ngọn lửa nhưng lại hoàn toàn không hề bị thương. 



Lần này có người ghi hình lại, ngọn lửa không hề bị tắt trong suốt nửa giờ đồng hồ, tuy ngọn lửa càng lúc càng yếu, nhưng chỉ đốt một bộ quần áo mà đến những nửa giờ đồng hồ thì thật sự là khó tin. Truyền thông các nơi liên tiếp đến phỏng vấn khiến những nơi gần chỗ Ram ngồi thiền trở nên đông đúc chưa từng có. 

Video Ram ngồi thiền giữa ngọn lửa trong phim tài liệu của kênh Discovery

Các học giả Ấn Độ giải thích rằng cậu thiếu niên này đã nắm được cách tu tập cổ xưa nhất của Phật giáo Tây Tạng. Cách hít thở này có thể làm giảm quá trình trao đổi chất của cơ thể, khiến cho sự hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể giảm xuống thấp nhất. 



Tháng 2/2006 cũng là tròn 9 tháng Ram ngồi thiền dưới gốc cây, một kênh truyền thông đã đưa nhóm bác sĩ đến để tiến hành một cuộc phỏng vấn đặc biệt. Trong lúc phỏng vấn, nhóm bác sĩ quan sát ở cự li 5m, trong nửa giờ đồng hồ cậu bé chỉ hít vào 3 lần, nuốt nước bọt một lần. Điều khiến người ta không hiểu đó là, đã lâu không ăn uống nhưng sắc mặt của cậu vẫn hồng hào, cơ thể cũng không hề có bất cứ hiện tượng lạ nào. Theo phản hồi của nhóm bác sĩ, có rất nhiều người phương Tây cũng trở nên hứng thú với tu luyện Phật gia vì sự việc về cậu thiếu niên này. 



Sau 9 tháng ngồi thiền, cậu thiếu niên biến mất vào ngày 11/3/2006, những người ủng hộ cho rằng cậu đi vào rừng để tìm một nơi yên tĩnh hơn. Những năm về sau, cậu có xuất hiện trước công chúng một vài lần để thuyết giảng và làm dấu ban phước cho những người hành hương… 



Cảnh Ram ngồi thiền dưới gốc cây cổ thụ có thể giống với câu chuyện nổi tiếng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng Ram chưa bao giờ tự nhận mình là Đức Phật. “Hãy bảo mọi người đừng gọi tôi là Phật. Tôi không có năng lượng của Phật. Tôi ở cấp độ của một rinpoche.” (Rinpoche trong phật giáo Tây Tạng là từ kính trọng để chỉ Lạt-ma đắc đạo, chuyển sinh hoặc một người truyền giảng Phật Pháp.) 


Ngọc Trúc tổng hợp 
Share:

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

Chuông trống Bát Nhã và ý nghĩa của nó

Trong đạo Phật, tiếng chuông và tiếng trống là hai trong các loại pháp khí đã trở nên quen thuộc, gần gũi với truyền thống, văn hóa, tín ngưỡng dân tộc của người Việt Nam. Còn từ Bát Nhã tiếng Sanscrit là Prajnà, tiếng Pali là Panna, chữ Hán dịch là Trí tuệ hay Tuệ minh, đó là một loại trí tuệ sáng suốt, thanh tịnh, rỗng lặng, không còn bị chi phối bởi phiền não, ô nhiễm và là trí tuệ đệ nhất.



Tìm hiểu về chuông trống Bát Nhã

Chuông trống Bát Nhã là danh từ dùng để chỉ chuông to, trống lớn, thường chùa có thể xây lầu chuông, gác trống và treo “tả chung, hữu cổ”. Nghĩa là bên trái đặt chuông, bên phải đặt trống.

Hiểu về hai chữ Bát Nhã trong chuông trống Bát Nhã

Bát-nhã Ba-la-mật đó là mầm mống trí tuệ siêu việt, cao tột, thậm thâm vi diệu, vốn sẵn có trong mỗi chúng ta nhưng vì bị vô minh, ái dục che mờ nên chúng ta không tự biết, vì vậy tiếng chuông, tiếng trống là hai thứ tiếng có sức mạnh thúc giục giúp cho chúng ta khai sáng tiềm lực, mở thông trí tuệ, hiện hữu, không gián đoạn.

Tiếng chuông trống Bát-nhã kêu gọi chúng ta thức tỉnh, thôi thúc chúng ta thắp lên ngọn đuốc trí tuệ soi sáng con đường giải thoát.

Chuông là gì?

Nói về chuông thì đây là một loại pháp khí sử dụng riêng ở đạo Phật, được đúc bằng kim loại, phát ra âm thanh vang rền và thanh thoát, thường gọi là đại hồng chung, hình dáng của nó được làm theo các hình tháp hay hình chén rỗng.

Trong Phật giáo, chuông được coi là biểu trưng cho trí tuệ, mỗi khi âm thanh huyền diệu ngân vang thì đó chính là lời triệu gọi làm tỉnh giấc bao tâm hồn đang ngủ say trong  lầm mê và thanh lọc bao cõi lòng của người con Phật.

Tiếng chuông vang dứt trừ vọng hoặc nghiệp trần gian, thông suốt khắp mười phương cõi Niết-bàn, thấu đến cõi địa ngục, u đồ chúng sanh khi nghe thấy liền bớt đau khổ và được giải thoát. Tam đường địa ngục, ngã quỷ, súc sanh cùng bát nạn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, sinh lên cõi trời trường thọ, sinh ở uất đan việt, đuôi diếc câm ngọng, thế trí biện thông, sinh trước Phật và sau Phật đặng tiêu tan. Lại nữa, tiếng chuông thanh thoát của chùa có thể giúp cho loài quỷ đói được nhẹ bớt lòng tham lam, sân, si mà giải thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.

 Trống là gì?

Nói về trống (trống đại) thì đây là một trong những loại nhạc khí được sử dụng rộng rãi  thường làm bằng đá, cây, đồng,… Tùy thuộc vào mục đích của người sử dụng mà nó có công năng khác nhau nhưng riêng ở Phật giáo tiếng trống tượng trưng cho chánh pháp và là âm thanh truyền tải giai điệu thuần khiết cho đời sống tâm linh và đây cũng chính là một trong những phương tiện để nhắc nhở người con Phật luôn sống bằng lòng chân thật, không giả dối, cảm thông, chia sẽ,… Chúng sanh mỗi khi nghe tiếng trống chánh pháp ấy thì tội chướng được tiêu trừ và cũng nhờ đó mà được giải thoát vào cảnh giới an lạc.

 Ý nghĩa của chuông trống Bát Nhã

Tiếng chuông vang vọng, tiếng trống giục giã đã đánh động biết bao tâm hồn kẻ si mê và khai sáng trí tuệ.

 Một khi trí tuệ và chánh pháp hòa vào nhau thì sẽ tạo âm vang vào lòng người, đánh động lương tri, khơi dậy thiện căn và cũng là ngọn nến thắp sáng lên bóng tối vô minh. Đó cũng chính là lúc con đường giác ngộ được mở thông, sanh trí huệ chăm bón cho hạt giống bồ đề trong tâm thức được tăng trưởng.

 Chuông trống Bát Nhã thường được sử dụng vào dịp nào?

Chuông trống Bát Nhã thường được sử dụng vào những ngày lễ lớn trong năm, ngày sám hối, khóa tu, cung thỉnh các giảng sư, chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức và mở đầu hoặc kết thúc một quyển kinh, riêng ở xã hội phong kiến, chuông trống bát nhã còn được đánh để cung đón vua đến viếng chùa.

Mang công dụng cung thỉnh chư Phật thượng đường chứng minh, cung nghinh chư Tôn thiền Đức quang lâm và đồng thời báo hiệu quý nam nữ Phật tử tập trung về chánh điện, giảng đường,… nhiếp tâm về với chánh niệm. Đây là một nghi thức hành lễ Phật giáo của Trung Hoa du nhập sang Việt Nam.

Cách đánh chuông trống Bát Nhã theo hai miền Nam Bắc

Chuông trống Bát nhã còn là cụm từ dùng để chỉ cách đánh chuông và trống theo bài kệ “Bát Nhã Hội” (theo miền bắc) hoặc “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa” (theo miền nam), về cách đánh thì có sự phân biệt giữa các miền, tuy không thống nhất bằng một cách đánh nhưng nó vẫn cùng mang chung một ý nghĩa đó là cảnh tỉnh mọi người.

 Tiếng chuông hay tiếng trống đó đều là loại pháp khí mang ý nghĩa sâu sắc trong sự tồn tại và phát triển của Phật giáo và mang ý nghĩa tâm linh trong tâm hồn những ai là người con Phật. Hồi chuông, hồi trống vang lên còn ngầm có ý nghĩa là cảnh tỉnh mọi người nên thức tỉnh tu hành tìm về nẻo giác.

Vì thế chuông trống bát nhã rất quan trọng trong thiền môn mỗi khi ngân vang đó còn là lời nhắc nhở cho chúng ta trang bị hành trang trí huệ trên lộ trình giải thoát.
Share:

Yếu nghĩa sâu xa của kinh Địa Tạng

Chúng ta phải nương hào quang ấy, khai phát ra, để trí huệ ngày càng sáng suốt, tham sân si ngày càng thưa mỏng, nghiệp chướng ngày càng tiêu trừ, những vọng tưởng điên đảo ngày càng giảm thiểu. Lúc ấy, Bồ tát Địa Tạng sẽ xuất hiện, cửa địa ngục tham sân si sẽ bị phá đổ. Mong rằng tất cả những người hữu duyên đều được lợi ích, và hãy y cứ vào đó tu hành, từ đây cho đến ngày viên mãn.

Tựa đề của kinh Địa Tạng cần giải thích trước tiên là “U minh Giáo chủ Bổn Tôn Địa Tạng Bồ tát Ma ha tát”. Có nghĩa đấng giáo chủ cõi U minh là Bổn Tôn Địa Tạng Bồ tát Ma ha tát. Thông thường, chúng ta tin có một vị Bồ tát tên Địa Tạng, Ngài cầm trong tay phải một cây tích trượng và tay trái một hạt minh châu. Ngài xuống địa ngục làm giáo chủ, dùng tích trượng đập phá cửa địa ngục để cứu vớt chúng sanh, nếu chúng sanh chí thành niệm danh hiệu của Ngài. Nhưng liệu chúng ta tin một cách thật thà như vậy có đúng không? Đó là điều đáng nói.

Chúng ta nên biết, cách sử dụng từ ngữ trong kinh điển thật hết sức sát nghĩa và rõ ràng: “Bổn” là Bổn tâm. “Tôn” là tôn quý, “Địa” là tâm địa, “Tạng” là Như Lai tạng. Như vậy, chỉ có Bổn tâm mới là tôn quý nhất, đó là kho Như Lai tạng tâm địa; chỉ có Bổn tâm mới làm chủ được cõi u minh, tức làm chủ cõi địa ngục tham sân si của chính mình.

Địa ngục chính là địa ngục tham sân si, vì chúng sanh khổ là do tham sân si mà khổ. Và khi có tham sân si đầy dẫy trong tâm, phiền não dấy khởi, thì cái gì mới phá được cửa địa ngục này? Dĩ nhiên phải là Bổn Tôn Địa Tạng của chính mình vậy. Quan trọng là mình phải nhận ra được Bổn Tôn Địa Tạng – nghĩa là tự tánh Như Lai tạng tâm địa, cái cực tôn cực quý, hoặc nói gọn như trong kinh Niết Bàn, nhận lại Phật tánh của mình, thì mình mới có thể đập phá được địa ngục tham sân si và cứu giúp chúng sanh muôn loài.
Nếu đọc các kinh điển Đại thừa, chúng ta sẽ thấy trong kinh dùng rất nhiều ngụ ngôn ngụ ý, ám chỉ nghĩa lý sâu xa huyền diệu. Cho nên, khi chúng ta quá chấp nê vào chữ nghĩa, hiểu những hình ảnh lung linh được diễn tả trong đó một cách quá thật thà, thì chúng ta sẽ khó lãnh hội được ý kinh. Mà không lãnh hội được ý kinh thì không thể nào hiểu được bản ý của Đức Phật.

Kinh Địa Tạng không phải là thật giáo – nghĩa là chỉ thẳng, mà thuộc quyền giáo – nghĩa là quyền biến phương tiện, tức phải tạm dùng cái sự tướng lung linh huyền diệu đó để hiển bày lý tánh tuyệt đối kia. Khi muốn trỏ một cái thật, nếu dùng lý lẽ diễn đạt một cách chi li, thì dễ làm phát sinh những khái niệm từ thức tâm phân biệt, sẽ khó đi thẳng vào chân lý cứu cánh. Chẳng hạn như kinh Pháp Hoa, các dụ về Cùng tử, về tháp Đa Bảo, về Như Lai thọ lượng...

Muốn nói lên điều gì? Rõ ràng, các hình ảnh ấy đều nhằm kích thích trực giác hết. Kinh Địa Tạng ở đây cũng vậy, Bồ tát Địa Tạng và cõi U minh được diễn tả cũng chỉ là dùng sự để hiển lý.
Đức Phật thường được các hàng đệ tử xưng tán là “Như Lai biết nghĩa, biết pháp, biết trình độ, biết thời cơ và biết chúng hội”. Sự thuyết pháp của Phật căn cứ vào ba yếu tố: thời, xứ và vị – nghĩa là thời gian nói pháp, nơi chốn nói pháp và đối tượng nghe pháp. Vì vậy, Phật không nói pháp nào chỉ có ý nghĩa một chiều.

Có khi Ngài nói pháp thấp cho hàng căn cơ kém; có lúc Ngài nói pháp vừa cho hàng trung căn; cũng có khi lại nói pháp cao, rốt ráo cho hàng căn cơ bậc thượng. Cho nên, nhiều khi trong kinh điển chúng ta thấy có vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng kỳ thực, đó là do tùy duyên hóa độ. “Nhất thiết tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ”, tất cả kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng, chúng ta phải nương ngón tay để thấy mặt trăng, nghĩa là phải nương vào văn tự trong kinh để khéo thầm hội được chân lý.
Đối với kinh Địa Tạng, nếu chúng ta hiểu một cách thật thà và mê tín rằng, Địa Tạng là một vị Bồ tát có hình tướng rõ ràng, và có một cõi địa ngục thật sự, thì chúng ta đã chấp ngón tay là mặt trăng, chúng ta sẽ ỷ lại vào tha lực, tin tưởng vào thần quyền, rồi vô tình bài bác lý nhân quả. Nếu thật sự có một Bồ tát Địa Tạng đủ khả năng đập phá cửa địa ngục, thì chúng ta khỏi cần tụng kinh, tọa thiền hay tu Bát quan trai, chỉ cần một lòng cầu Bồ tát, chờ đến lúc chết sẽ có Ngài đến cứu.

Như vậy thì, tinh thần ai ăn nấy no – ai uống nấy hết khát có còn đâu? Nhân nào quả nấy cũng không có ý nghĩa. Đức Phật ra đời cũng vô nghĩa luôn. Nhưng thật ra, vì sao chúng ta phải nỗ lực tu hành? Nếu chúng ta không cải ác phục thiện, không dứt trừ các nghiệp ác nơi thân, khẩu, ý, thì có vị Bồ tát nào cứu vớt mình được? Ví dụ trong một lớp học, ông thầy đem hết khả năng để dạy một cách công bằng, nhưng có thể nào thầy làm toàn bộ học trò đều giỏi đồng đều như nhau không?

Chủ ý của thầy là dạy hoàn toàn bình đẳng, nhưng kết quả học tập lại tùy thuộc trí thông minh, sự siêng năng cần mẫn, hoàn cảnh gia đình của mỗi học trò. Cũng như thế, chư Phật và chư Bồ tát không phải hoàn toàn không có tha lực đối với chúng sanh, nhưng tha lực của các Ngài chỉ là sức trợ duyên mà thôi.
Đức Phật ra đời, khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, nhưng khai thị mà chúng sanh có ngộ nhập được hay không là do ở mỗi chúng sanh. Nếu Phật có thể ban cho chúng sanh cái tri kiến Phật ấy, thì chúng sanh đâu cần tu, và tinh thần “Tự thắp đuốc lên mà đi” hóa ra vô nghĩa. Cho nên, nếu có suy nghĩ một chút, ta sẽ thấy, mọi kinh điển đều nhằm kích thích trực giác để ta nhận ra cái Bổn Tôn Địa Tạng, rồi tự nỗ lực để cứu chính mình ra khỏi sinh tử luân hồi.
Trước khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt ở rừng Ta La Song Thọ, Ngài đã tuyên bố rất rõ : “Các ông hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp”. Nếu chúng ta không tự thắp đuốc lên mà đi, cứ trông cầu nơi Phật, Bồ tát, thì chúng ta đã rơi vào thần quyền mất rồi, Đức Phật đã trở thành một vị thần linh rồi! Và nếu chúng ta thần thánh hóa các Ngài, các Ngài sẽ bị giảm giá trị; giáo lý của Đức Phật cũng bị đánh mất tính thực tiễn, tính khoa học và tính nhân bản, là nền tảng giá trị và đạo đức muôn đời của Đạo Phật.

Cho nên, sự học Phật của chúng ta, mỗi mỗi phải y cứ vào tinh thần “tự mình thắp đuốc”, vốn là kim chỉ nam cho mỗi người con Phật, dù là xuất gia hay tại gia. Chúng ta cần biết rằng, khi luận đến nghĩa lý sâu xa của kinh điển Đại thừa, thì khi nói đến chúng sanh, phải hiểu là chúng sanh tâm, bởi vì ngoài tâm không có chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm có nói, tâm như người thợ vẽ, vẽ ra mỗi ngũ uẩn của chúng ta.
Mỗi thân ngũ uẩn được tác tạo do vọng tâm, nói cách khác là do nghiệp lực. Như vậy, nói đến chúng sanh chánh báo, đó là chúng sanh tâm, còn hoàn cảnh y báo cũng không ngoài tâm mà có. Ở đây cũng vậy, chúng ta phải luôn luôn quay trở về bản tâm của chính mình thì mới hiểu được ý kinh. Chúng sanh bị đọa địa ngục, đó là chúng sanh tâm bị đọa lạc vào địa ngục tham sân si phiền não.

Muốn giải phóng chúng sanh tâm, phải dùng tự tánh Địa Tạng của chính mình. Nếu chúng sanh là chúng sanh tâm, thì Phật cũng là Phật tâm, ngoài tâm không có Phật; nếu địa ngục là địa ngục tự tâm, thì Địa Tạng tất nhiên cũng là Địa Tạng tự tâm vậy. Cho nên, có thể nói, không thể nào lìa tâm để tu hành, không thể nào lìa tâm mà giải thoát.

Đây là điều chúng ta phải hết sức lưu ý. Chúng ta tu là tu tâm của chúng ta, nếu thanh tịnh cũng là thanh tịnh cái tâm; khi giác ngộ là giác ngộ tự tâm, cho đến lúc thành đạo cũng là thành tựu lại cái bản tâm ấy. Ngoài tâm sẽ không có cái gì cả. Đó là chỗ y cứ của tất cả kinh điển Đại thừa.
Thông thường, nếu hiểu theo sự tướng, thì quy y Phật là trở về nương tựa nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, quy y Pháp tức quy y giáo pháp của Ngài, và quy y Tăng nghĩa là quy y những Tăng sĩ tu hành thanh tịnh. Nhưng nếu hiểu theo tinh thần của Lục Tổ Huệ Năng, hoặc của các kinh điển Đại thừa, thì quy y Tam bảo tức là Tam bảo tự tâm: Phật là tánh giác của chính mình, Pháp là chánh kiến sẵn đủ nơi tự tâm, Tăng chính là bản tâm thanh tịnh (Phật là Giác, Pháp là Chánh, Tăng là Tịnh).

Hiểu như thế mới trọn vẹn cả sự và lý, chứ nếu chỗ quy hướng lại ở bên ngoài, đó chính là ngoài tâm cầu Phật - tức là ngoại đạo. Bởi Phật là Phật tâm, mà trở về với tự tánh Địa Tạng là một sự quy y lớn. Chính vì sự quy y này mà cả ba đời Như Lai đồng kính ngưỡng, và mười phương Bồ tát mới trọn trở về nương tựa. Chúng ta sẽ khảo sát điều này kỹ hơn khi đọc đến đó.
Trở lại từ đầu: Chúng ta nên biết, bài tựa xưng tán Bổn Tôn Địa Tạng chính là cương lĩnh, là kim chỉ nam, là tổng quan của toàn bộ bản kinh. Cho nên, nếu hiểu rõ được bài tựa này, ta sẽ hiểu được toàn bộ bản kinh không khó :
“Dốc lòng cung kính lễ Giáo chủ cõi U minh
Là Bổn Tôn Địa Tạng Bồ tát Ma ha tát”
Cung kính lễ mà dốc lòng, có nghĩa là toàn tâm toàn trí cung kính lễ. Giáo chủ cõi U minh tức là bản tâm thanh tịnh của chính mình. Như vậy, đây là một sự quy y trở về với Bổn Tôn Địa Tạng của mình.
“Cúi đầu kính lễ Đấng Giáo chủ đại từ bi
Giống như đất bền chắc, sâu dày, rộng chứa khắp”.
Đất ở đây có nghĩa là đất tâm. Đất tâm rất kiên cố, không có gì công phá được, hủy diệt được. Tâm địa kiên cố là đức tính thứ nhất của Bổn Tôn Địa Tạng. Đức tính thứ hai là sâu dày. Chúng ta thấy, biển sâu cách mấy cũng có thể dò được, nhưng làm sao dò được tâm? Tâm không có hình tướng, kích thước, rút lại thì trên đầu mũi kim, bủa ra thì trùm khắp pháp giới; cho nên gọi là sâu dày. Đức tính thứ ba là rộng chứa khắp. Phật dạy: Bổn tâm của mỗi chúng sanh thật bao la không ngằn mé, nếu đem hư không so với bổn tâm, cũng như hòn bọt ví cùng biển cả.
Chúng ta dám nhận mình có Bổn Tôn Địa Tạng không? Nếu chúng ta không dám nhận, thì như kinh Pháp Hoa nói, chúng ta là những cùng tử xin ăn đầu đường góc chợ, con của trưởng giả mà cứ chịu lang thang. Lẽ ra, biết rõ cha mình rất giàu có, vàng bạc kho lẫm dẫy đầy, chúng ta phải trở về thọ hưởng gia tài của cha. Cũng như thế, chúng ta có Bổn Tôn Địa Tạng kiên cố, sâu dày, rộng chứa khắp này, mà lại cô phụ tánh linh của chính mình, rồi trôi giạt trong sáu đường ba cõi. Đó là cái bi kịch của kiếp người.
Tiếp theo, khi tán dương đúng mức công đức của Bổn Tôn Địa Tạng rồi, thì bắt đầu những hình ảnh lung linh huyền diệu:
“Thế giới phương Nam bủa mây hương,
Mưa hương, mây hoa và mưa hoa,
Mưa báu, mây báu nhiều vô số,
Ứng hiện điềm lành khắp trang nghiêm”.
Phương Nam là cõi Nam Thiệm Bộ Châu, tức cõi Diêm Phù Đề này. Thế giới lúc này không những có mây hương mà còn có mưa hương, mây hoa, mưa hoa, và cả mưa báu, mây báu nhiều vô số nữa. Chúng ta có tin rằng, trong cõi Ta-bà này mà có mây hương mây hoa không?

Nếu chúng ta tin trong đãy da hôi thối này có hòn ngọc như ý, trong lò lửa vô thường này có hoa sen nở, thì sẽ tin có những điềm lành ấy ứng hiện. Nói theo tinh thần kinh Hoa Nghiêm, khi nhận được bổn tâm, liền tức khắc tất cả các pháp đều trở thành những phẩm vật trang nghiêm. Có nghĩa là, khi một người nhận ra bổn tâm của chính mình, tức khắc tất cả pháp đều trở thành thị giả cho vị ấy. Bởi vì “Tất cả pháp đều từ tâm sanh”. Mê thì tất cả toàn mê, mà khi giác thì “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp”, tất cả pháp đều là pháp Phật, cõi Ta-bà liền tức khắc trở thành Tịnh độ.
“Trời Người hỏi Phật: là nhân gì?
Phật bảo: Địa Tạng Bồ tát đến”.
Khi thấy ứng hiện những điềm lành, trời người trong chúng hội đã hỏi Phật, đó là do nhân duyên gì? Phật trả lời, Bồ tát Địa Tạng đến. Nếu hiểu theo sự, chúng ta tưởng có một vị Bồ tát Địa Tạng, tay cầm tích trượng và ngọc minh châu đi đến. Nhưng nếu theo lý, phải hiểu rằng, Bổn Tôn Địa Tạng xuất hiện nguyên hình, cái nguyên hình mà từ vô thủy đến vô chung chúng ta đều có mà lại quên đi.

Đó là cái tâm thanh tịnh, cái tâm giác ngộ ứng hiện ra bên ngoài thành cái thấy, nghe, hay, biết của chúng ta. Nếu nhìn các pháp mà chúng ta không có một chút vọng tưởng điên đảo nào hết, thì Bồ tát Địa Tạng hiện tiền, các pháp đều trở thành vi diệu. Nếu nói theo tinh thần kinh Pháp Hoa, là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến; còn theo kinh Địa Tạng, đó là khai thị cho chúng sanh nhận ra cái Bổn Tôn Địa Tạng của chính mình. Đây là mục đích duy nhất của chư Phật khi ra đời. Nếu hiểu được nghĩa lý thâm sâu của sự kiện Bồ tát Địa Tạng xuất hiện, chúng ta sẽ sáng tỏ được hai câu kế tiếp:
“Ba đời Như Lai đều kính ngưỡng,
Mười phương Bồ tát trọn quy y”.
Hiểu theo sự, chúng ta sẽ thấy vô lý. Phật làm sao kính ngưỡng Bồ tát là vị có trình độ giác ngộ, trình độ tâm linh kém hơn? Cho nên, chúng ta phải hiểu theo nghĩa lý thâm sâu của nó. Kinh Bát nhã đã nói: Bát Nhã là mẹ chư Phật mười phương ba đời. Bát nhã là chánh nhơn tu hành của Bồ tát, là nguồn cội của tất cả mọi sinh linh hữu tình.

Nếu hiểu Bát nhã như vậy, mới hiểu được vì sao Địa Tạng lại được ba đời Như Lai kính ngưỡng. Bồ tát Địa Tạng ở đây là bản tâm của chính mình, mà bản tâm thì ở chư Phật, Bồ tát đều bình đẳng như nhau. Phật – Phật đồng đẳng ở bản tâm. Phật ngộ là ngộ tâm, chứng là chứng tâm. Đã ngộ tâm chứng tâm, thì chư Phật kính ngưỡng bản tâm là điều hợp lý.
“Nay con đầy đủ nhân duyên lành
Tán dương công đức chân thật của Địa Tạng”.
Tán dương mà hiểu được Địa Tạng là bản tâm thanh tịnh của chính mình, thì mới là tán dương chân thật, mới gọi là đầy đủ nhân duyên lành.
“Ngài là hiện thân của từ bi, của mọi điều lành.
Ngài thệ cứu độ tất cả chúng sanh”.
Từ bi có ở ngoài tâm không? – Từ bi là ở nơi tâm, là dụng của tâm, nên nói Ngài là hiện thân của từ bi. Làm tất cả mọi điều lành, tạo bao nhiêu công đức cũng không ngoài tâm để tạo, nên nói Ngài là hiện thân của mọi điều lành. Và theo lời nguyện của Ngài: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề”. Khi độ sạch hết chúng sanh tâm vào vô dư Niết bàn, theo tinh thần kinh Kim Cang, thì mới triệt chứng Bồ đề. Nếu còn một chúng sanh tâm, nghĩa là địa ngục chưa hoàn toàn trống, thì chưa thành Phật được.
Bây giờ nói đến biểu tướng của Ngài Địa Tạng:
“Tích trượng cầm trong tay, mở toang cửa địa ngục.
Trên tay có hạt minh châu, lóng lánh ánh sáng soi khắp đại thiên thế giới”.
Đây là một hình ảnh lung linh huyền diệu nữa. Chúng ta thấy, tích trượng của Ngài có bốn cái vòng, đó là tượng trưng cho Tứ đế, có mười hai khuy, tượng trưng Mười hai nhân duyên. Ngài cầm tích trượng trong tay có nghĩa quán triệt được Tứ đế và Thập nhị nhân duyên. Tích trượng cũng tượng trưng ý chí kiên cường, khi có đủ ý chí đại hùng đại lực, mới mở toang được cánh cửa địa ngục tham sân si của tự tâm.

Hạt minh châu lóng lánh tức hòn ngọc như ý, tượng trưng bản tâm thanh tịnh, có ánh sáng soi khắp đại thiên thế giới, nghĩa là tính thường chiếu của tâm, soi sáng cùng khắp. Do đó khi tỏ được lý Tứ đế và Thập nhị nhân duyên, rồi nhận ra bản tâm thanh tịnh, thì đủ sức phá tan địa ngục tham sân si trong tự tâm, đạt đến cứu cánh giải thoát.
“Ngài chính là Diêm Vương trên điện”.
Diêm Vương là vị vua xử tội chúng sanh ở âm phủ, tại sao Bồ tát Địa Tạng lại là Diêm Vương? Nếu ai làm việc phạm pháp hay tạo tội ác, dù đôi khi giấu được mọi người, trốn tránh được pháp luật, nhưng không thể giấu được tòa án lương tâm của mình. Như vậy, chính lương tâm, lương tri, tức Bồ tát Địa Tạng, là Diêm Vương xử tội cho chính mình. Mình vừa khởi một niệm ác, niệm ấy liền in vào A-lại-da thức, thành nghiệp ác.
“Ngài chính là gương nghiệp trước đài”
Nghiệp giống như gương soi, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Khi bản tâm thanh tịnh, các pháp hiển bày thể tánh; khi còn vô minh, nghiệp in vào A-lại-da thức như vật hiện trong gương, lưu ảnh trước đài. Như vậy, tạo tội là do mình, tạo phước cũng do mình, chúng ta từ đây trở đi có dám tạo tội nữa không? Bởi chính mình vừa là gương nghiệp, vừa là Diêm Vương, thì trốn đâu cho khỏi? Sự tu hành rất là sòng phẳng, có phải vậy không?
“Vì chúng sinh cõi Nam Diêm Phù Đề
Bậc giáo chủ chứng minh mọi công đức”
Tự tâm của mình sẽ chứng minh mọi công đức cho mình. Chúng ta thấy, chính tâm là nguồn cội của mọi công đức, mà cũng là gốc rễ của tội lỗi; chính tâm là căn bản của giải thoát sinh tử, mà cũng là gốc của luân hồi.
“Nay thành tâm kính lễ
Đại bi, Đại nguyện, Đại thánh, Đại từ
Bổn Tôn Địa Tạng Bồ tát Ma ha tát”.
Xin được nhắc lại, Bồ tát Địa Tạng nếu nói về lý, là một nhân vật tượng trưng, ngầm chỉ cái cực tôn quý sẵn có nơi mỗi chúng ta. Cho nên, khi đến chùa đảnh lễ Bồ tát Địa Tạng, nên nhớ đến Địa Tạng tự tâm của chính mình. Chỉ có Địa Tạng này mới đủ năng lực phá đổ tường thành vô minh và cứu vớt mình khỏi địa ngục tham sân si tối tăm. Cái gọi là thiên đường không có ở ngoài tâm, địa ngục cũng không ngoài tâm mà có.

Tâm như người thợ vẽ, tạo hoàn cảnh chánh báo và y báo của mỗi chúng sanh, tạo nên tất cả sự vật trên thế gian, tạo cả sáu đường ba cõi. Cho nên, người ngộ được tâm và sống viên mãn với tâm, người đó được gọi là Phật. Phật là giác, nghĩa là giác cái tâm sẵn đủ ở mình, chúng sanh si mê nên thọ khổ, cũng là thọ khổ nơi tự tâm; Bồ tát Địa Tạng cứu độ chúng sanh cũng phải là chúng sanh tâm.
Đức Phật thuyết kinh lúc nào cũng có sự và lý, sự dùng những hình ảnh để làm phương tiện, lý nhằm hiển bày cái chân lý cứu cánh kia. Có nhiều người đọc kinh điển Đại thừa, lại chấp vào sự mà không hiểu lý, nên dễ rơi vào “mê tín Đại thừa”. Vì vậy, chúng ta phải khéo tư duy, khéo thâm nhập, mới thấy cái thú vị của kinh. Nếu không, sẽ thấy kinh có vẻ lạc lõng, không phù hợp với thời đại khoa học hiện giờ.

Thực ra, cảnh giới của một người đã giác ngộ rất khác với người thường: Tất cả sự vật tầm thường đều đứng lên diễn bày Phật pháp, như kinh Di Đà đã nói, tiếng suối reo, tiếng chim hót đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Tất cả pháp luôn luôn mời gọi, nhưng vì chúng ta không lắng tâm lại để nghe, mãi chạy theo những vọng tưởng lăng xăng điên đảo, nên không biết rằng tất cả tiếng đều là tiếng Phật. Trên mặt đất hiện thực của cuộc đời này, nếu tâm ta thanh tịnh, ta sẽ thấy nơi nào cũng có bảy báu, nước nào cũng là nước tám công đức, ở đâu cũng là cõi Cực lạc.
Tất cả pháp đều hướng từ nơi tâm, tất cả cảnh giới đều do tâm lượng mà biến hiện. Ví dụ, chỉ là một dòng sông, nhưng đối với loài người thì đó là nước để sử dụng; đối với loài cá, là thế giới cho chúng bơi lội sinh sống, là không khí cho chúng thở; đối với loài ngạ quỷ, lại thấy đó toàn là máu; còn đối với chư Thiên, thì do phước nghiệp nên các vị thấy là lưu ly pha lê trong suốt. Như vậy, dòng sông đã lên tiếng tùy tâm lượng của mỗi chúng sanh. Cho nên, cõi Tịnh độ hay thế giới Ta-bà cũng ở tại đây, thiên đường hay địa ngục cũng tại đây hết.
Trong sự học Phật, nếu hiểu được kinh điển theo tinh thần lý sự viên dung như thế, ta sẽ cảm thấy rất tự tin, không sống theo sự mong cầu và ỷ lại vào tha lực. Tự nhiên sẽ hợp với lý nhân quả, với lời Phật dạy “Tự thắp đuốc lên mà đi”. Không ai có thể ăn uống giùm, sống giùm cho ai. Nếu tự do tạo nghiệp ác rồi cầu nguyện Bồ tát Địa Tạng, tin rằng Bồ tát có thể cứu mình, thì ý nghĩ đó hết sức sai lầm và tai hại, đó hoàn toàn không có chánh kiến và chánh tín.
Ở đây, chúng ta cũng cần nhận định cho rõ, địa ngục không phải hoàn toàn không có. Địa ngục là địa ngục tự tâm, nhưng đó cũng là cảnh giới do nghiệp cảm đồng phận của chúng sanh. Nghiệp ác giống nhau sẽ chiêu cảm một cảnh giới như nhau. Ví dụ, Phật và Bồ tát thấy cõi người là cảnh huyễn mộng, không thật; nhưng chúng ta vẫn thấy đây là thật, do nghiệp người của tất cả chúng ta, chưa giải thoát được sinh tử. Tương tự, cảnh giới địa ngục không có thật đối với các bậc giác ngộ, nhưng vẫn là thật đối với những chúng sanh tạo tội.

 thế gian cũng thế, những người cùng một nghiệp thường có khuynh hướng cùng tụ tập với nhau ở một môi trường, một cảnh quan tương ứng: kẻ trộm cướp vào tù, những người ham tu cùng nhau đến chùa tụng kinh, nghe pháp.
Tóm lại, địa ngục nghĩa là tham sân si phiền não của chúng sanh. Địa ngục cũng chính là cảnh giới của ba nghiệp ác, từ thân khẩu ý phát sinh ra. Địa ngục là sự tối tăm ám chướng, là sự mê muội trong tâm thức của mỗi người. Đó chính là địa ngục tự tâm.

Phật nói kinh Địa Tạng là cốt cảnh tỉnh tất cả chúng ta dẹp bỏ tham sân si nơi tự tâm, tu tập ba nghiệp lành nơi tự tâm, rồi dứt nghiệp cũng nơi tự tâm và giải trừ vô minh tăm tối cũng nơi tự tâm. Cuối cùng trở về với Bổn Tôn Địa Tạng của chính mình. Đó là cương lĩnh của toàn bộ kinh Địa Tạng.
Về phần chính văn trong bản kinh, đề nghị chúng ta đọc kỹ và hiểu theo nghĩa lý sâu mầu của kinh. Rồi sẽ thấy kinh nói chuyện với mình nhiều điều hết sức mới mẻ, mầu nhiệm. Khi hiểu rõ ý kinh, sự trì tụng mới đầy đủ ý nghĩa, đời tu của chúng ta mới đúng theo quỹ đạo tu hành; nếu không, chúng ta có thể rơi vào đường tà, vào mê tín, thì uổng một đời làm đệ tử của Đức Phật. Chúng ta là đệ tử Phật, tắm mình trong ánh hào quang của Phật, hào quang ấy là trí tuệ Phật tâm sẵn đủ của chính mình.

Chúng ta phải nương hào quang ấy, khai phát ra, để trí huệ ngày càng sáng suốt, tham sân si ngày càng thưa mỏng, nghiệp chướng ngày càng tiêu trừ, những vọng tưởng điên đảo ngày càng giảm thiểu. Lúc ấy, Bồ tát Địa Tạng sẽ xuất hiện, cửa địa ngục tham sân si sẽ bị phá đổ. Mong rằng tất cả những người hữu duyên đều được lợi ích, và hãy y cứ vào đó tu hành, từ đây cho đến ngày viên mãn.
Bài viết Yếu nghĩa kinh Địa Tạng
Tác giả: Thích Thông Huệ - Vườn hoa Phật giáo 
Share:
Blogger Tips And TricksLatest Tips For BloggersLatest Tips and Tricks
Loading...

Tổng số lượt xem trang

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

Recent Comment

Like us on Facebook
Follow us on Twitter
Recommend us on Google Plus
Subscribe me on RSS
Blogger Widgets